Đại Cát

Lễ hội Đền Hùng

Thời gian
08 - 10 /03 âm lịch
Địa điểm
Thôn Cổ tích, xã Hy Cương, huyện Phong Châu, Phú Thọ
Miền
Bắc

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”. Vậy giỗ tổ ở đây là gì?- là Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng. Đây là dịp để nhân dân cả nước lại hướng về cội nguồn dân tộc, tưởng niệm và ghi nhớ công lao tổ tiên, thể hiện tình cảm sâu đậm. Điều này đã trở thành truyền thống “ uống nước nhớ nguồn”, ghi nhận công lao to lớn của các vua Hùng đã có công dựng nước Văn Lang- nhà nước đầu tiên của người dân gốc Việt. Sau Cách mạng Tháng Tám, kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, năm nào Nhà nước cũng tổ chức lễ hội Đền Hùng và lễ dâng hương tại Đền Thượng. Hầu hết các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đã đến thăm viếng mộ Tổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đến thăm Đền Hùng. Ngày 19 tháng 9 năm 1954, Bác lần lượt đi thăm khu di tích, viếng mộ Tổ và Đền Giếng, gặp gỡ và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên phong trên đường về tiếp quản thủ đô: "Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Từ nhiều đời nay, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đã luôn hướng tới một điểm tựa của tinh thần văn hoá - đó là lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương, được tổ chức từ ngày mồng 8 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Nhưng phần lễ chính được diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3. Điạ điểm tổ chức ngay tại đền Hùng- thôn Cổ tích, xã Hy Cương, Huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ rất chặt chẽ, bao gồm hai phần: lễ và hội. Phần lễ được duy trì trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Lễ hội được tổ chức rất đông vui, có khoảng 40 làng lân cận cùng tham gia rước kiệu từ đình làng mình tới chầu tại chân đền. Mỗi lễ vật được đặt trên kiệu đều có một ý nghĩa nhất định, có liên quan đến từng sự tích vào thời vua Hùng; chẳng hạn như : Lễ vật của đám rước thường có voi( nan); ngựa ( gỗ)- với ý nghĩa muôn loài quy phục vua Hùng, đồng thời cũng là tượng trưng cho việc Sơn Tinh mang lễ vật đến cầu hôn Mỵ Nương. Đám rước cỗ chay và mâm ngũ quả không được thiếu cùng với lễ vật là bánh chưng, bánh giầy để nhắc lại sự tích Lang Liêu, cũng là nhắc nhở công đức các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa. Nhưng không chỉ có đủ lễ vật đã là đạt giải mà còn phải căn cứ vào một vài yếu tố khác như : kiệu phải đẹp, sang ( sơn son, thiếp vàng), quân cờ, quân kiệu phải đủ đồng phục và rước lên núi vẫn giữ được thăng bằng và đồng bộ giữa kiệu, tàn, tán, lọng; không xô nhau hoặc lúc nhanh lúc chậm! Đó là những chuẩn mực để ban giám khảo chấm giải. Kiệu nhất của năm nay thì năm sau sẽ được rước lên đền Thượng. Còn kiệu năm nay được rước là kiệu của làng năm ngoát đạt giải. Điều này tạo nên sự thường xuyên cố gắng của các làng về ý thức với Tổ và tạo nên sự long trọng và tôn nghiêm của ngày giỗ. Nghi thức dâng hương hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,... được tổ chức long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mồng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng sớm ngày mồng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở một địa điểm tại thành phố Việt Trì, có xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành tới chân núi Hùng. Các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Một đồng chí lãnh đạo tỉnh (năm chẵn là nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá), thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc căn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước có thể theo dõi lễ hội Đồng bào dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu. Phần hội diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn thể,.... Tại khu văn thể, các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người).... Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ,... Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời dóng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hoà, cho mùa màng tốt tươi, muôn dân hạnh phúc. Những làn điệu Xoan - Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hoá vùng Trung du Đất Tổ. Một điểm quan trọng nằm ở giữa trung tâm lễ hội là nhà bảo tàng Hùng Vương, ở đây lưu giữ vô số những cổ vật đích thực của thời đại các Vua Hùng. Thời đại của chúng ta ngày nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sự cao đẹp của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Hàng năm, ý nghĩa tâm linh của cuộc trẩy hội về Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt tôn giáo.... Tất cả những người con đang sống trên mọi miền Tổ quốc, những người con xa xứ đều bình đẳng về mộ Tổ, thăm đền và dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương.