Lễ Đôn-ta là lễ hội truyền thống lớn nhất trong năm của đồng bào Khmer, còn được gọi là lễ cúng ông bà (Píth-sên đôn-ta). Lễ có ý nghĩa giống với lễ Vu Lan của người Việt nên còn được gọi là lễ "Xá tội vong nhân". Đây là lễ được tổ chức nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ và người thân, tạ ơn những người đã khuất và cầu phước cho những người còn sống, tạo nên sự gắn bó giữa bạn bè, người thân và cả cộng đồng.
Đôn Ta là lễ giỗ chung của cộng đồng, tưởng nhớ và tri ân tổ tiên ông bà cùng tất cả những người thân đã khuất. Người Khmer không bắt buộc phải có bàn thờ riêng cho ông bà, cha mẹ và cũng không nhất thiết phải làm đám giỗ cho từng người thân đã mất trong năm. Vì thế, Đôn Ta còn trở thành lễ hội chung của cộng đồng, không nhất thiết phải buồn thương, sầu nhớ và qua đấy, là mối dây thắt buộc nếp sống cộng đồng theo tập tục ngàn năm.
Trong những đêm lễ hội, sau buổi cầu siêu tối của các sư sãi, thanh niên nam nữ có thể cùng nhau bước vào vòng múa roam-vông trong tiếng nhạc rộn vang ngay giữa sân chùa. Cuộc vui cứ thế kéo dài cho đến nửa đêm. Trong ngày lễ hội Đôn Ta ở khắp các xóm ấp Khmer, không nhà nào mà không có vài mâm cơm làm cỗ cúng. Người ta dọn bữa cơm ấy làm lễ vô bồn, tức là vào mùa lễ Đôn Ta. Vô bồn là bày biện phẩm vật cúng lễ và một mâm cơm cúng, mời Lục Cà Cha (giống như ông thầy cúng của người Kinh) và ông già bà cả trong họ hoặc trong ấp đến làm chủ lễ.
Các cụ ngồi trên giường, nơi một phía bày 2 thúng trái cây, kẹo bánh, đèn nhang, cả thóc gạo, rượu, bánh trái nhà làm. Ở giữa là mâm cơm cúng, phía sau ông thầy chủ lễ, giáp vách tường còn có giăng một sợi dây treo toàn quần áo mới và những tấm khăn, xà rông mới tinh, sặc sỡ. Đấy chính là trang phục dành cho người đã khuất. Ông thầy cầm túm lá cây trên tay, vừa đọc kinh cầu, vừa nhúng nước rảy trên phẩm vật cúng tế và cả trên những người ngồi ở chung quanh. Nghi thức ấy chính là lời mời âm hồn tổ tiên, ông bà về ăn cơm mới, về vui vầy với con cháu trong nhà sau một năm trời cách biệt âm dương.
Cúng xong, con cháu và họ hàng, lối xóm mới cùng nhau vào tiệc. Xong bữa ở nhà này lại tới tiệc nhà kia, thành ra cuộc lễ cứ kéo dài ra đến suốt cả ngày. Đến ngày cuối 30 âm lịch, thì mọi nhà đều có người mang phẩm vật cúng ra chùa, kèm theo gạo thóc, cơm canh, thuốc trà, bánh trái cúng dường cho sư sãi.
Mỗi nhà mỗi món, cúng xong ở chùa, người ta mới cùng nhau ăn bữa cơm chung ngay tại ngôi Sa la hay ở sân chùa. Hôm sau, còn một lễ tiễn đưa các âm hồn về lại nơi chín suối. Phẩm vật mỗi thứ một ít xếp vào một chiếc thuyền con chế từ bẹ thân cây chuối rồi đem thả trên suối hay bàu, ao nước gần chùa.
Tiếng là lễ giỗ chung nhưng Đôn Ta lại mang đến cho người Khmer Tây Ninh những niềm vui bình dị. Vừa là sự tưởng nhớ đến cội nguồn, biết ơn tổ tiên, vừa là một dịp nghỉ ngơi, vui chơi sau một vụ cày bừa, cấy hái trên đồng.