Năm kia cày bừa chẳng thu hoạch. Năm nay ruộng vườn tốt vào mùa thu. Huống gì gặp ngày thái bình vô sự. Kẻ sĩ, nông phu, thợ thầy, thương gia đều chẳng việc gì lo:
Năm qua cày cấy cũng như không,
Chắc định thu nay có mùa màng.
Gặp vận thái bình nên nghiệp cả.
Sĩ nông công cổ xứng tâm cang
THÁNH Ý:
Kẻ sĩ nhận tiến cử. Được tài lộc. Kiện tức được giải. Bệnh không hại. Hỏi người đi xa, sẽ trở về liền. Mưu vọng tốt. Có niềm khánh hỷ đến.
GIẢI CỦA ĐÔNG PHA:
Phạm chuyện mưu sự, trước bỉ nay thái. Thời vận sắp hanh thông. Có điểm mừng chẳng có hại. Sĩ nông công thương đều gặp việc vui. Tài vật bội thu, đều khắp cả trong ngoài.
CHÚ CỦA BÍCH TIÊN:
Tích bỉ kim phùng thái,
Vưu đương yếu thủ thành
Bất luận bần dữ phú,
Tự nhiên tận thông hanh.
Xưa bỉ nay đã thái. Nên giữ chuyện đã thành. Bất luận giàu hay nghèo. Tự nhiên đều hanh thông.
GIẢI:
Xăm này nên đổi thay mà mưu lợi. Mọi việc kẻ quý người tiện đều hy vọng. Hỏi bệnh thì thấy hung, trước lo sau mừng. Thai sanh con trai. Phong thủy tốt lợi. Con cháu hanh thông.
CHÚ THÍCH:
Ngày tháng Dậu Tuất Hợi, đẹp nhưng không đủ. Chủ lụy về điền thồ hoặc lo về bệnh tật. Người xem có nhiều việc nên không yên ổn. Nhưng rồi cũng vô sự. Cày cấy không thu hoạch được. Năm đến vận bỉ. Đến thu thì vận thái sẽ thấy ngay trước mắt. Xăm này trước hung sau cát. Kiện tụng và công danh, đến mùa thu sẽ đều thành tựu.
CHIÊM NGHIỆM:
Một thí sinh thi tuế khảo xem được quẻ này đậu hạng ba ứng với bốn chữ”thái bình vô sự”, bậc ba là vượt quá địa vị bình thường.
VIÊN TÀI HÀ TẤN PHÁT:
Xuân hạ bình bình, thu đông có đại lợi. Vận qua rồi điên đảo. Vận đến sẽ an nhàn. Tài có lợi có, hôn nhân hạp ý, kiện được thắng lý, bệnh tật mau lành, người đi xa bình an. Cầu công danh có quý nhân chỉ dẫn. Sự tích vua Thuấn cày ở núi Lịch Sơn trúng mùa. Sau vua Thuấn nhường ngôi và gả con gái cho vua Vũ nhà Hạ. Xăm đúng câu: Thăng đường cận quý, mạng vận hanh thông.