Đường cạnh suối sông vốn thấp cao. Than rằng đường xa, mặt trời về tây. Nếu được thời tiết tốt mà vinh hoa. Nên đem chó khỉ đổi gà vàng.
Suối sông đường xá nẻo quanh co,
Trời xế đường dài khổ bôn ba.
Dầu được vinh hoa thời tiết tốt,
Gặp khỉ, chó, gà mới thoả cho.
THÁNH Ý:
Cầu tài của toại. Xem bệnh nguy hiểm. Tin tức còn xa. Danh khó thành. Kiện kết quả hung. Hôn nhân muộn. Thai tất kinh hiểm. Đất đai chưa ổn.
GIẢI CỦA ĐÔNG PHA:
Đường xa khúc khuỷu. Lại đang suy lão, mưu cầu phần lớn khó khăn. Tự than thở. Gặp năm Thân, Dậu, Tuất hoặc ngày tháng năm như trên, hơi được như nguyện.
CHÚ CỦA BÍCH TIÊN:
Bình xuyên tĩnh xứ bị phong thương,
Ái hảo phiên thành sự nhất trường.
Giả nhiêu lại đắc bình xuyên tỉnh,
Chỉ khủng vinh hoa bất cửu trường.
Sông lặng bình yên bị gió to. Thiêt phải bày ra lắm chuyện đời. Nếu như dựa vào sông bình lặng. Chỉ sợ vinh hoa chẳng được lâu.
GIẢI:
Xăm này ban đầu có hiểm trở. Đang yên gặp nạn. Tục ngữ có câu: “Bế môn gia lý toạ. Hoạ tòng thiên thượng lai” (Đóng cửa ở trong nhà, hoạ từ trời vẫn giáng xuống). Đợi đến năm tháng ngày Thân, Dậu, Tuất mới tốt. Kiện hung, tài chậm, công danh khó, hôn nhân muộn, người đi xa chậm về. Bệnh nguy hiểm. Mọi việc nhiều điều xấu.
CHÚ THÍCH:
Đất bằng lại gặp nơi nguy hiểm. Mọi việc do thời vận, do mệnh mình mà đến như vậy, được xăm này tất phải than thở. Gặp năm tháng ngày Thân, Dậu, Tuất hơi toại ý. Đến Dậu đại đắc lợi, có thể nói đang đi gồ ghề gặp đường thông suốt vậy.
CHIÊM NGHIỆM:
Một người thi Tông Sư xem quẻ này. Sau được đậu hàng hai. Ngày có tin yết bảng là ngày Bính Thân, lúc hoàng hôn giờ Dậu, ứng với hai chữ “vinh hoa” không sai.
VIÊN TÀI HÀ TẤN PHÁT:
Xăm có hơi xấu. Mọi việc đến chậm. Hạp về tháng 7,8,9. Cầu tài đặng ít. Hôn nhân nên xét kĩ. Có bệnh nên đổi thầy. Kiện thưa nên hoà. Phải phòng tiểu nhân ganh ghét. Đi xa mới khá hơn. Cũng như tích ông Phạm Lãi bỏ chốn cũ đi qua xứ khác (xứ Hồ) làm ăn mà trở nên phú hộ. Xăm đúng câu: Điềm ứng kim năng sanh thuỷ. Âm dương có kẻ trợ an. Cầu quan áo gấm mặc xuê xoang. Xứ lạ cầu tài đặng lợi.